Video clip
KCN Quế Võ 3 - Que Vo 3 IP
Số người đang online: 48
Số lượt truy cập: 26187878
Cập nhật: 28/11/2017
ĐẨU TƯ CỦA HÀN QUỐC TẠI CÁC KCN BẮC NINH – NHỮNG HẠN CHẾ VÀ XU HƯỚNG THU HÚT ĐẾN NĂM 2020
Cùng với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) nói chung, FDI của Hàn Quốc nói riêng vào các KCN Bắc Ninh đã tăng lên đáng kể. Theo KOTRA (cơ quan Xúc tiến Ngoại thương Hàn Quốc), đầu tư của Hàn Quốc vào Việt Nam sẽ tăng mạnh sau khi Hiệp định tự do thương mại (FTA) giữa hai nước có hiệu lực từ ngày 1/6/2007.
Các lĩnh vực truyền thống mà Hàn Quốc tập trung đầu tư là các ngành công nghiệp nặng, sản xuất chế tạo đống tàu, luyện kim, tài chính, xây dựng, sắt thép, hàng điện tử và thiết bị máy móc. Với những nguồn lực sẵn có, thuận lợi về vị trí địa lý, chính trị ổn định, thị trường Việt Nam sẽ ngày càng hấp dẫn các doanh nghiệp Hàn Quốc do thuế nhập khẩu nguyên liệu, thiết bị máy móc phục vụ quá trình sản xuất tại Việt Nam và thuế xuất khẩu hàng hóa sang Hàn Quốc giảm mạnh. Việt Nam đang trở thành điểm hấp dẫn đầu tư ở châu Á, với việc các tập đoàn lớn của Hàn Quốc như Posco, Samsung, Lotte, Kumho Asiana... bắt đầu làn sóng đầu tư mới tại đây. Nhiều doanh nghiệp Hàn Quốc đã và đang tìm đến thị trường Việt Nam để mở rộng cơ hội kinh doanh, tăng cường đầu tư vào các ngành công nghiệp trọng điểm. Ngoài ra, các công ty vừa và nhỏ cũng sẽ tăng cường đầu tư vào Việt Nam hoặc di chuyển chi nhánh từ Trung Quốc sang Việt Nam.
Năm 2007, các KCN Bắc Ninh bắt đầu tiếp nhận dòng vốn của nhà đầu tư Hàn Quốc. Quý I/2008, Bắc Ninh đã tiếp nhận dự án đầu tư sản xuất điện thoại di động của Tập đoàn Samsung đầu tư vào KCN Yên Phong, mở đầu cho việc thu hút đầu tư các doanh nghiệp vệ tinh của Tập đoàn này.
Đến thời điểm 31/10/2017, có 449 dự án của Hàn Quốc được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư vào các KCN Bắc Ninh với tổng số vốn đăng ký là 11,2 tỷ USD. Các dự án FDI của Hàn Quốc chủ yếu hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất linh kiện điện tử, điện thoại di động, cơ khí chính xác, chế biến nông sản thực phẩm, các ngành dịch vụ phục vụ và công nghiệp dân dụng. Các dự án FDI Hàn Quốc vào KCN Bắc Ninh đã phát huy hiệu quả cao, đóng góp lớn cho sự phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Ninh, đóng góp lớn vào GTSXCN, kim ngạch xuất nhập khẩu và sử dụng lao động của các KCN, góp phần tạo giá trị gia tăng của nền kinh tế, phát triển nguồn thu, giải quyết việc làm, các vấn đề xã hội, tạo thu nhập cao ổn định cho người lao động, đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Qua thực tế có thể đánh giá những ưu điểm, những hạn chế của FDI Hàn Quốc tại các KCN Bắc Ninh như sau:
* Ưu điểm:
- Phát huy tốt hiệu quả đầu tư, các lĩnh vực sản xuất đều có giá trị gia tăng cao, đóng góp lớn vào tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp; kim ngạch xuất nhập khẩu, thu nộp ngân sách; đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng công nghiệp hiện đại; thúc đẩy quá trình phát triển kết cấu hạ tầng xã hội;
- Giải quyết tốt các vấn đề xã hội, tạo việc làm có thu nhập cao, ổn định cho người lao động địa phương và các địa phương, vùng lân cận;
- Thúc đẩy sự phát triển của các loại hình dịch vụ phục vụ sản xuất công nghiệp; tăng cường mối liên kết kinh tế giữa các doanh nghiệp trong các KCN và với các doanh nghiệp ngoài KCN;
- Góp phần hình thành và phát triển ngành công nghiệp mũi nhọn của tỉnh (công nghệ điện tử, viễn thông), xây dựng Bắc Ninh trở thành trung tâm điện tử viễn thông của Khu vực Miền Bắc và Việt Nam;
- Tạo điều kiện tiếp cận nhanh công nghệ sản xuất, trình độ quản lý hiện đại;
- Tác động lan tỏa trong thu hút đầu tư; xây dựng hình ảnh và thương hiệu, nâng cao năng lực cạnh tranh của các KCN Bắc Ninh với các quốc gia trong khu vực và các vùng lãnh thổ.
* Một số hạn chế:
Tuy nhiên, bức tranh doanh nghiệp FDI Hàn Quốc tại các KCN Bắc Ninh không chỉ có gam màu sáng, mà một số mảng màu tối ngày càng bộc lộ rõ (ở hiện tại và dự đoán trong tương lai), thể hiện qua mấy vấn đề:
- Vốn đầu tư tăng nhanh nhưng vốn thực hiện chậm so với tiến độ đăng ký nên chưa phát huy tối đa hiệu quả đầu tư;
- Việc phát triển các mối liên kết giữa các doanh nghiệp không thuộc FDI Hàn Quốc với khối doanh nghiệp này còn nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến việc phát triển của các doanh nghiệp trong nước và các loại hình dịch vụ phụ trợ;
- Một bộ phận doanh nghiệp FDI Hàn Quốc đang gây thất thoát về nguồn thu thuế của Nhà nước qua hiện tượng chuyển giá trong hoạt động thương mại giữa nội bộ các công ty thông qua hình thức gia công cho Công ty mẹ hoặc gia công cho bạn hàng;
- Một số doanh nghiệp chưa nghiêm túc thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với người lao động dẫn đến tình trạng tranh chấp, đình công, lãn công; chi phí trả lương cho người lao động chưa tương xứng với công việc người lao động đảm nhận;
- Đa số các doanh nghiệp FDI Hàn Quốc đều sử dụng chủ yếu lao động nữ gây nên sự mất cân đối về lao động trong lực lượng lao động, ảnh hưởng đến sự phát triển của một số ngành công nghiệp khác như may mặc, sản xuất hàng dân dụng…
Thu hút đầu tư nước ngoài (ĐTNN) là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước. Vai trò của FDI đối với mỗi địa phương là không thể phủ nhận. Thực tế cho thấy có một mối quan hệ chặt chẽ giữa phát triển kinh tế của địa phương với lượng vốn FDI thu hút được. Đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước đòi hỏi phải được cụ thể hoá cho phù hợp với đặc thù của địa phương. Hơn thế nữa, đối tượng thực thi những chính sách này cũng như người hướng dẫn thực thi chính sách lại diễn ra tại một địa phương cụ thể. Do đó, hiệu quả của chính sách thu hút FDI phụ thuộc vào năng lực, hiệu lực, hiệu quả của chính quyền địa phương. Vì thế, để thu hút FDI hiệu quả cần vận dụng sáng tạo các chủ trương, chính sách vào tình hình cụ thể của địa phương.
Chính sách thu hút FDI của Bắc Ninh nói riêng (đặc biệt là dòng vốn của Hàn Quốc) cũng như những chính sách phát triển KCN cần phải được hoạch định trên cơ sở phát huy những ưu thế và khắc phục các hạn chế của địa phương (huyện, thị xã, thành phố), của từng KCN. Sự khác nhau về vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, điều kiện kết cấu hạ tầng, năng lực thực thi của chính quyền cơ sở, năng lực tài chính và cách quảng bá hình ảnh về KCN của mỗi Công ty kinh doanh hạ tầng KCN, cũng như nguồn nhân lực hiện có… dẫn đến sự ưu tiên bố trí cơ cấu ngành nghề tại KCN cũng khác nhau. Một điều cần thấy rằng, mỗi KCN có ưu thế khác nhau, nguồn lực huy động cũng như điều kiện phát triển khác nhau. Do đó, đòi hỏi chính sách thu hút đầu tư cũng khác nhau. Thực tế chứng minh không phải lúc nào giải pháp được thực thi khá hiệu quả ở KCN này cũng thu được kết quả tương tự ở KCN  khác. Vì thế, tìm một giải pháp thu hút FDI chung cho mọi KCN là một bài toán khó.
Một điểm cần lưu ý nữa trong hoạch định chính sách thu hút đầu tư với KCN là sự phát triển không đồng đều của các địa phương. Sự thu hút vốn đầu tư vào các ngành nghề, loại hình công nghệ có thể hấp thụ tuỳ thuộc lớn vào trình độ phát triển của mỗi địa phương, của từng nhà đầu tư. Hơn thế nữa, năng lực quản lý của các cấp chính quyền cũng là nhân tố ảnh hưởng đến các chính sách thu hút đầu tư nói chung và FDI nói riêng ở mỗi KCN.
Vì vậy, để duy trì ổn định, khai thác có hiệu quả dòng vốn FDI Hàn Quốc đầu tư vào địa phương thì chính sách và hành động của chính quyền cấp tỉnh là một nhân tố quyết định, đặc biệt là phải phân tích, nhận định được xu hướng vận động của FDI Hàn Quốc trong những năm tới.
* Xu hướng vận động của FDI Hàn Quốc vào các KCN Bắc Ninh:
Thứ nhất, FDI Hàn Quốc có xu hướng tăng nhanh và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn đầu tư vào KCN.  Đặc biệt, vai trò quan trọng của thương hiệu nhà đầu tư lớn như SamSung sẽ là nhân tố quan trọng để Bắc Ninh thu hút ngày càng nhiều doanh nghiệp Hàn Quốc.
Thứ hai, sự phân bổ dòng vốn FDI không đều đem lại cơ hội khác nhau cho các địa phương khác nhau. Những năm đầu thế kỷ XX, khoảng 70% lượng vốn FDI trên thế giới được đầu tư vào các nước đang phát triển. Nhưng đến cuối những năm 90, FDI vào các nước công nghiệp phát triển tăng nhanh (năm 2000 đã chiếm 79,1 %, năm 2006 tăng 45%, đạt 857 tỷ USD). Các nước đang phát triển ở khu vực châu Á và châu Đại dương vẫn là những địa điểm thu hút FDI mạnh mẽ, năm 2006 đạt mức kỷ lục là 260 tỷ USD, chiếm hơn 2/3 lượng FDI vào các nước đang phát triển năm 2006. Trong các nước đang phát triển, khu vực Đông, Nam và Đông Nam Á là khu vực thu hút FDI khá mạnh mẽ. Trong đó, Trung Quốc, Hồng Kông và Singapore là ba nền kinh tế thu hút được nhiều vốn FDI nhất. Các quốc gia được đánh giá là có triển vọng cao trong việc thu hút FDI trong thời gian tới là Hàn Quốc, Malaixia, Việt Nam. Trong bối cảnh đó, các địa phương có lợi thế sẽ có cơ hội thu hút nhiều FDI hơn, hoặc sẽ thu hút được ít FDI hơn nếu môi trường kém cạnh tranh hơn.
Thứ ba, nguồn vốn FDI cũng được cung cấp từ các nước lớn, đồng thời có sự tham gia mạnh mẽ của các nền kinh tế mới nổi. Hàn Quốc là một quốc gia đang phát triển cũng nằm trong danh sách 15 nước đứng đầu. Tuy nhiên, FDI từ các nước phát triển đem lại lợi ích cho nước nhận đầu tư hơn. Nhân tố này gợi ý cho các địa phương phải có chính sách thích hợp mới thu hút được loại FDI có lợi nhất.
Thứ tư, xu hướng chuyển dịch dần FDI từ ngành truyền thống như chế tác và sơ chế sang lĩnh vực dịch vụ. Một số lĩnh vực được nhiều nhà đầu tư quan tâm là: máy tính, công nghệ thông tin, các tiện ích công (sản xuất và phân phối điện, ga, nước), giao thông, du lịch, khách sạn và nhà hàng, xây dựng, ngân hàng và bảo hiểm, buôn bán lẻ, dịch vụ kinh doanh. Do đó, các địa phương cần có chính sách cơ cấu thích hợp để lựa chọn FDI thu hút, trong đó, Hàn Quốc là một quốc gia có ưu thế lớn về những ngành nghề này.
Thứ năm, dòng vốn FDI chịu sự chi phối chủ yếu bởi các công ty xuyên quốc gia. Mặc dù ngày càng có sự đa dạng trong đối tác đầu tư FDI, nhưng các công ty xuyên quốc gia vẫn là những chủ thể đầu tư trực tiếp với khối lượng kiểm soát trên 90% tổng FDI toàn thế giới. Càng ngày các công ty xuyên quốc gia càng tiếp tục vươn ra những khu vực khác nhau trên thế giới với quy mô FDI ngày càng lớn và đóng vai trò quyết định đối với lĩnh vực này. Bên cạnh việc nắm giữ các khu vực đầu tư truyền thống như châu Âu, Bắc Mỹ, các công ty xuyên quốc gia đang tăng cường hoạt động FDI vào những địa bàn được đánh giá là đầy triển vọng như khu vực châu Á. Các địa phương đón nhận được sự quan tâm của các công ty đa quốc gia sẽ có khả năng thu hút được FDI công nghệ cao, quy mô lớn. Đặc biệt, chính sách về hình thức FDI cần phù hợp với xu hướng lựa chọn hiện thời của các công ty đa quốc gia là hợp nhất, mua lại, hợp đồng licensing, hợp tác đầu tư…
Thứ sáu, FDI ngày càng được chi phối bởi các hiệp định quốc tế. Bởi lẽ để quản lý tốt hoạt động đầu tư, các cơ quan chịu trách nhiệm về đầu tư đã tiến hành những bước đi có thể gia nhập các hiệp ước đầu tư hay các hiệp định khác có nội dung liên quan đến đầu tư. Hiệp định tự do thương mại (FTA) giữa Hàn Quốc và Việt Nam (có hiệu lực từ ngày 1/6/2007) đang được hai quốc gia thực hiện tốt.
Thứ bảy, hiện tại các doanh nghiệp FDI đã đầu tư và hoạt động tại các KCN Bắc Ninh đang phát huy hiệu quả cao, cùng với đó là sự triển khai đầu tư từ các Tập đoàn lớn đến từ các quốc gia và vùng lãnh thổ khác trên thế giới. Tuy nhiên, các ngành công nghiệp phụ trợ, các loại hình dịch vụ, hỗ trợ từ chính các doanh nghiệp FDI của Hàn Quốc chưa phát triển. Trong những năm tới, cùng với chủ trương của Nhà nước thúc đẩy việc thu hút đầu tư để phát triển các loại hình doanh nghiệp công nghiệp phụ trợ, xu hướng đầu tư vào Việt Nam nói chung và các KCN Bắc Ninh nói riêng sẽ được bổ sung bởi các loại hình doanh nghiệp này. Đây là các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa, do đó dự án đầu tư của họ sẽ là những dự án đầu tư có quy mô không lớn, dự kiến quy mô vốn đầu tư từ khoảng 500.000USD đến 01 triệu USD.
Bên cạnh đó, sẽ xuất hiện các doanh nghiệp đầu tư để hoạt động trong các lĩnh vực phụ trợ khác như: đào tạo công nhân công nghệ cao; dịch vụ phục vụ phát triển công nghệ cao…
Như vậy, có thể nói xu hướng và đặc điểm vận động của dòng vốn FDI trên thế giới nói chung, FDI Hàn Quốc nói riêng có ảnh hưởng cả tích cực lẫn tiêu cực đối với việc thu hút FDI vào Bắc Ninh. Nắm bắt xu hướng trên rất quan trọng trong hoạch định chính sách của quốc gia nói chung và của Bắc Ninh nói riêng để thu hút có hiệu quả nguồn vốn FDI phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội.
Từ những xu hướng mang tính quốc tế kể trên, Bắc Ninh cần có giải pháp hữu hiệu để thu hút FDI Hàn Quốc vào các KCN trong những năm tới, đó là:
* Đẩy mạnh công tác xúc tiến đầu tư:
Trên cơ sở chương trình xúc tiến đầu tư quốc gia và chương trình xúc tiến đầu tư của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tỉnh căn cứ trên lợi thế và đặc thù của mình xây dựng chương trình xúc tiến đầu tư. Hoạt động xúc tiến đầu tư cần thực hiện qua các hình thức như: tổ chức các cuộc hội nghị, hội thảo xúc tiến đầu tư với sự tham gia của các nhà ĐTNN trong và ngoài nước; duy trì các trang web cung cấp thông tin ĐTNN và các trang web của các KCN, soạn và in các sách hướng dẫn về ĐTNN tại địa phương bằng nhiều thứ tiếng nước ngoài; giới thiệu về tiềm năng, lợi thế địa phương qua đĩa CD, DVD, phim ảnh...; quảng bá và tuyên truyền về tỉnh trên các phương tiện thông tin đại chúng; xây dựng và tiến hành các hoạt động hợp tác quốc tế phục vụ cho xúc tiến đầu tư; công khai danh mục các dự án đã đầu tư vào Bắc Ninh...
* Chống tham nhũng và nâng cao hiệu quả quản lý hành chính, tạo niềm tin cho các Nhà đầu tư:
Chống tham nhũng và nâng cao hiệu quả nền hành chính có liên quan chặt chẽ đến việc lành mạnh hoá môi trường đầu tư, từ đó đẩy mạnh thu hút FDI. Để tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư có thể thực hiện các biện pháp giảm các thủ tục hành chính phiền hà, công khai hoá và minh bạch hoá quá trình cấp phép, giải quyết kịp thời các khiếu nại của các nhà ĐTNN; kiên quyết xử lý những trường hợp sách nhiễu, vô trách nhiệm của các cán bộ, cơ quan công quyền. Dưới sự chỉ đạo chung của Chính phủ, tỉnh cần chấp hành nghiêm túc, đúng pháp luật, đồng thời chủ động giải quyết những vấn đề phát sinh trong hoạt động của doanh nghiệp FDI. Tiến hành rà soát và kiên quyết loại bỏ những văn bản ban hành trái với quy định chung của nhà nước, quán triệt nguyên tắc “một cửa”; cùng với đó, khắc phục tình trạng quản lý chồng chéo, phân tán, kém hiệu quả của cơ quan quản lý nhà nước. Chống tham nhũng thông qua các hoạt động: cải cách chế độ công chức, công vụ; thực hiện nghiêm chế độ thủ trưởng trong các cơ quan hành chính; phân định rõ trách nhiệm của người đứng đầu và tập thể lãnh đạo các cấp; xử lý nghiêm, kịp thời những cán bộ, công chức lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao nhũng nhiễu, gây phiền hà cho nhân dân và doanh nghiệp. Tổ chức các cuộc đối thoại trực tiếp giữa lãnh đạo tỉnh và các nhà ĐTNN...Giải quyết tốt các vấn đề nêu trên sẽ xây dựng được một hệ thống hành chính mạnh, giải quyết hiệu quả công tác quản lý và thực hiện các thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho các Nhà đầu tư trong quá trình hoàn thiện thủ tục, sớm triển khai thực hiện dự án, tạo niềm tin cho các nhà đầu tư.
* Đầu tư xây dựng đồng bộ hệ thống cơ sở hạ tầng trong và ngoài hàng rào các KCN:
Hệ thống cơ sở hạ tầng trong và ngoài hàng rào các KCN là nhân tố quan trọng quyết định sự đầu tư của Nhà đầu tư, đồng thời cũng là nhân tố giải quyết triệt để các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường sống của người dân xung quanh KCN. Do đó, cần có sự chỉ đạo sát sao các Chủ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng KCN trong việc đầu tư xây dựng đồng bộ hệ thống cơ sở hạ tầng của KCN về điện, giao thông, cấp nước, xử lý nước thải, thông tin liên lạc, tài chính ngân hàng, hải quan...đảm bảo đáp ứng nhu cầu hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Kiên quyết chỉ đạo hoàn thiện việc đầu tư hệ thống và nhà máy xử lý nước thải của các KCN trước khi đưa KCN vào hoạt động. Công tác triển khai đầu tư hệ thống hạ tầng trong KCN cần có sự gắn kết chặt chẽ với hệ thống hạ tầng ngoài KCN tạo sự đồng bộ, thống nhất, gắn chặt quy hoạch KCN với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Phát triển nhanh các hạng mục hạ tầng xã hội về nhà ở cho người lao động, hình thành các Khu đô thị ưu tiên cho đầu tư xây dựng nhà cho người có thu nhập thấp. Lưu ý tập trung phát triển các Khu đô thị này ở các khu vực nông thôn để tránh sự quá tải và phát triển đô thị mất cân đối giữa các địa phương trong nội bộ tỉnh, sự quá tải của khu vực thành thị. Đây là cơ sở để tỉnh phát triển nguồn nhân lực thông qua biến động cơ học của một bộ phận dân số đến từ các địa phương, vùng lân cận bổ sung cho nguồn nhân lực của tỉnh.
* Xây dựng và triển khai có hiệu quả đề án quy hoạch và phát triển nguồn nhân lực của địa phương, chú trọng đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực:
Thực tế tốc độ phát triển các KCN thời gian qua và dự báo trong những năm tới, nhu cầu về nhân lực đáp ứng hoạt động sản xuất kinh doanh của các Nhà đầu tư tại các KCN là rất lớn. Việc quy hoạch nguồn nhân lực đủ về số lượng, có chất lượng cao sẽ là nhân tố góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp KCN, đồng thời là yếu tố quan trọng khi các Nhà đầu tư xem xét đầu tư vào các KCN. Do đó, tỉnh cần có sự chỉ đạo các cấp, các ngành liên quan hoàn thiện và đưa đề án quy hoạch phát triển nguồn nhân lực vào triển khai thực hiện.
Tạo điều kiện thuận lợi để khuyến khích các tổ chức chính trị xã hội, các thành phần kinh tế đầu tư, liên kết đầu tư phát triển các loại hình đào tạo nghề cho người lao động. Xây dựng đội ngũ lao động có chất lượng, đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.
* Hoàn thiện và nâng cao chất lượng các dịch vụ sau cấp phép đầu tư:
Sau khi cấp phép đầu tư, các cơ quan cấp giấy phép đầu tư rà soát, phân loại các dự án FDI đã được cấp giấy phép đầu tư để có những biện pháp thích hợp, kịp thời tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp. Trong phạm vi thẩm quyền sản xuất kinh doanh của mình, các cơ quan quản lý có thể hỗ trợ thông qua khuyến khích và động viên kịp thời; tháo gỡ những khó khăn của doanh nghiệp về: giải phóng mặt bằng, thủ tục nhập máy móc thiết bị, nguyên liệu phục vụ dự án đầu vào, thị trường tiêu thụ, thuế...; giải quyết các vướng mắc, kể cả việc điều chỉnh mục tiêu và quy mô hoạt động của dự án. Đồng thời đối với các dự án chưa triển khai hoặc không có khả năng hoạt động cần kiên quyết thu hồi giấy phép, dành địa điểm cho các nhà đầu tư khác. Thực hiện công tác đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ quản lý và công nhân kỹ thuật, đáp ứng yêu cầu của các doanh nghiệp FDI. Chỉ đạo các Sở, ngành thực hiện đồng bộ các giải pháp để nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh nhằm nâng cao giá trị, vị thế của tỉnh đối với tỉnh bạn và với các nhà đầu tư./.
 

Đinh Hoàng Dũng – Trưởng phòng Đại diện