Video clip
KCN Quế Võ 3 - Que Vo 3 IP
Số người đang online: 92
Số lượt truy cập: 25901539
Cập nhật: 11/02/2014
VAI TRÒ CỦA CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH BẮC NINH
Khu công nghiệp, Khu chế xuất hình thành và phát triển gắn liền với công cuộc đổi mới, mở cửa nền kinh tế được khởi xướng từ Đại hội Đại biểu toàn quốc Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VI (năm 1986). Các Nghị quyết của Đảng tại các kỳ Đại hội từ năm 1986 đến nay đã hình thành hệ thống các quan điểm nhất quán của Đảng về phát triển Khu công nghiệp, Khu chế xuất; khẳng định vai trò của Khu công nghiệp, Khu chế xuất là một trong những nền tảng quan trọng để thực hiện mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại như Nghị quyết Đại hội X và XI đã nêu rõ.

Đinh Hoàng Dũng

Trưởng phòng Quản lý Đầu tư

 

Khu công nghiệp, Khu chế xuất hình thành và phát triển gắn liền với công cuộc đổi mới, mở cửa nền kinh tế được khởi xướng từ Đại hội Đại biểu toàn quốc Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VI (năm 1986). Các Nghị quyết của Đảng tại các kỳ Đại hội từ năm 1986 đến nay đã hình thành hệ thống các quan điểm nhất quán của Đảng về phát triển Khu công nghiệp, Khu chế xuất; khẳng định vai trò của Khu công nghiệp, Khu chế xuất là một trong những nền tảng quan trọng để thực hiện mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại như Nghị quyết Đại hội X và XI đã nêu rõ.

Thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, phát huy lợi thế về địa kinh tế, tiềm năng thế mạnh của tỉnh, Bắc Ninh đã thực hiện quy hoạch xây dựng và phát triển các Khu công nghiệp, coi đây là khâu đột phá trong việc đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng công nghiệp, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, XVII, và XVIII “Đưa Bắc Ninh cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2015”.

Tính đến thời điểm hiện tại, Bắc Ninh có 15 Khu công nghiệp được Chính phủ phê duyệt với tổng diện tích đất quy hoạch là 6.847ha. Có 9 Khu công nghiệp đang triển khai đầu tư xây dựng, đi vào hoạt động với tỷ lệ lấp đầy trên diện tích đất cho thuê đạt 58,91%, tỷ lệ lấp đầy trên diện tích đất thu hồi cho thuê đạt 74,85%. Luỹ kế đến hết Quý I/2013, các Khu công nghiệp Bắc Ninh đã thu hút 591 dự án đầu tư với tổng vốn đầu tư đăng ký trên 5,3 tỷ USD, trong đó có 304 dự án có vốn đầu tư nước ngoài.

Qua hơn 14 năm hình thành và phát triển, các Khu công nghiệp Bắc Ninh đã có đóng góp lớn vào tăng trưởng sản xuất công nghiệp, nâng cao kim ngạch xuất khẩu và sức cạnh tranh của nền kinh tế, tạo sự lan tỏa mạnh mẽ, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân, tạo việc làm với thu nhập ổn định, góp phần thúc đẩy sự phát triển của các loại hình dịch vụ trên địa bàn tỉnh, đặc biệt là địa bàn lân cận các Khu công nghiệp. Các doanh nghiệp đi vào hoạt động đã đóng góp quan trọng vào chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh, liên tục ở mức trên hai con số của tỉnh, cụ thể như sau:

Một là, các Khu công nghiệp đã tạo nên giá trị gia tăng cao về giá trị sản xuất công nghiệp, đóng góp lớn vào giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh, góp phần đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

Năm 2005, các Khu công nghiệp Bắc Ninh mới51 doanh nghiệp đi vào hoạt động, giá trị sản xuất công nghiệp đạt 1.800 tỷ, đánh dấu những đóng góp ban đầu vào quá trình phát triển của tỉnh Bắc Ninh sau 7 năm thành lập và xây dựng các Khu công nghiệp. Tuy nhiên, doạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp mới chỉ ở giai đoạn đầu, nên chưa phát huy hết công suất (công suất bình quân đạt từ 40-50% công suất thiết kế).

Qua từng năm, lũy kế đến hết năm 2012, các Khu công nghiệp Bắc Ninh đã có 293 doanh nghiệp đi vào hoạt động, tạo ra giá trị sản xuất công nghiệp lớn, là nhân tố chính đóng góp vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp của tỉnh. Nếu như giai đoạn năm 2005, các Khu công nghiệp Bắc Ninh mới đóng góp được 13,5% tổng giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh thì đến năm 2011 đã đạt 58,6% và năm 2012 đạt 273.065 tỷ đồng chiếm 65,4% tổng giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh (Bảng 1. Giá trị sản xuất công nghiệp của các Khu công nghiệp).

Như vậy, với tốc độ tăng trưởng bình quân về giá trị sản xuất công nghiệp hàng năm của các Khu công nghiệp hiện nay là 17% sẽ đảm bảo đáp ứng các tiêu chí về tỷ trọng công nghiệp - xây dựng trong GDP đến năm 2015 của tỉnh theo quyết định 23 là 69%; giá trị sản xuất công nghiệp của các doanh nghiệp công nghệ cao sẽ vượt chỉ tiêu đặt ra là chiếm 45% trong toàn ngành công nghiệp; đạt tiêu chí tỷ trọng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong GDP chiếm từ 35-40%.

Hai là, các Khu công nghiệp là nhân tố quan trọng nâng cao giá trị kim ngạch xuất khẩu của tỉnh, góp phần đưa Bắc Ninh trở thành tỉnh có giá trị xuất siêu, tham gia hội nhập kinh tế quốc tế.

Năm 2003 - 2004, các doanh nghiệp đi vào hoạt động chủ yếu là các doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước, thực hiện việc đầu tư tại Khu công nghiệp với mục tiêu di chuyển địa điểm sản xuất kinh doanh, kim ngạch xuất khẩu tại các Khu công nghiệp không có. Năm 2005, khi các doanh nghiệp mới bước đầu ổn định sản xuất, với sự đóng góp của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (Công ty Trendsetter Fashions, Asean tire…) kim ngạch xuất khẩu đạt 12,278 triệu USD, chiếm 24% giá trị xuất khẩu toàn tỉnh. Đến năm 2007, do có các tập đoàn lớn thực hiện dự án đầu tư (tập đoàn Canon, Hồng Hải, Mitac, Longtech...) kim ngạch xuất khẩu tại các Khu công nghiệp Bắc Ninh đạt 346,82 triệu USD. Đặc biệt, đến năm 2009, với việc đưa dự án Khu tổ hợp công nghệ Samsung của Công ty TNHH Samsung Electronics Việt Nam tại Khu công nghiệp Yên Phong đi vào hoạt động, kim ngạch xuất khẩu của tỉnh Bắc Ninh đã có bước tăng trưởng vượt bậc, đưa Bắc Ninh trở thành tỉnh có giá trị xuất siêu vào năm 2009.

Thực tế cho thấy, giá trị kim ngạch xuất khẩu của các Khu công nghiệp Bắc Ninh luôn đạt tốc độ tăng trưởng cao, ổn định. Điều đó, đã nâng cao tỷ trọng đóng góp về giá trị kim ngạch xuất khẩu của các Khu công nghiệp vào giá trị kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh. Đến năm 2012, các Khu công nghiệp đã trở thành nhân tố chủ yếu đóng góp vào giá trị kim ngạch xuất khẩu của tỉnh với giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 13.623 triệu USD chiếm tỷ trọng 99,3% (Bảng 2. Kim ngạch xuất khẩu của các Khu công nghiệp).

Bên cạnh sự đóng góp của các Khu công nghiệp vào giá trị kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh, các Khu công nghiệp cũng là nhân tố quan trọng trong việc đưa nền kinh tế Bắc Ninh tham gia hội nhập vào nền kinh tế quốc tế thông qua trao đổi thương mại, thu hút đầu tư. Tính đến hết Quý I/2013, các Khu công nghiệp Bắc Ninh đã thu hút 304 dự án có vốn đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 4,2 tỷ USD. Các dự án có vốn đầu tư nước ngoài được thực hiện bởi các nhà đầu tư đến từ 24 quốc gia và vùng lãnh thổ trong khu vực và trên thế giới.

Các Khu công nghiệp cũng chiếm tỷ trọng lớn về giá trị kim ngạch nhập khẩu toàn tỉnh. Năm 2006 giá trị kim ngạch nhập khẩu của các Khu công nghiệp mới chiếm 53,3% kim ngạch nhập khẩu của tỉnh thì đến năm 2012 đã chiếm 99,5%.

Như vậy, các Khu công nghiệp là nhân tố chủ yếu, quan trọng trong việc đẩy mạnh sự tăng trưởng về kim ngạch xuất khẩu của tỉnh, góp phần thúc đẩy mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới, đưa nền kinh tế của tỉnh tham gia hội nhập vào nền kinh tế quốc tế.

Ba là, các Khu công nghiệp đã góp phần quan trọng trong giải quyết việc làm, đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao thu nhập, đời sống và trình độ của người lao động.

Khi các doanh nghiệp Khu công nghiệp mới đi vào hoạt động (năm 2003) giải quyết việc làm cho 2.931 lao động, trong đó chủ yếu là lao động địa phương. Tính đến 12/2007, các Khu công nghiệp Bắc Ninh đã giải quyết việc làm cho 19.476 lao động, trong đó lao động địa phương chiếm 42,4%. Tốc độ tăng số lượng lao động làm việc tại các Khu công nghiệp bình quân giai đoạn 2003-2007 là 64,68%. Tính đến hết 31/12/2012, các Khu công nghiệp Bắc Ninh đã tạo việc làm cho 117.445 lao động, lao động địa phương chiếm tỷ trọng 38,34%, tốc độ tăng trưởng về số lượng lao động bình quân giai đoạn 2008-2012 là 40,4%. Việc thu hút nhiều lao động làm việc tại các Khu công nghiệp cho thấy hiệu quả xã hội đem lại từ các Khu công nghiệp là rất lớn.

Cùng với sự phát triển của các Khu công nghiệp, các doanh nghiệp Khu công nghiệp và quy định lộ trình tăng lương tối thiểu của Chính phủ, thu nhập của người lao động trong các Khu công nghiệp dần được nâng cao. Đến hết năm 2012, thu nhập bình quân của người lao động trong các Khu công nghiệp đạt 3,32 triệu đồng/người/tháng cao hơn mức thu nhập bình quân của lao động toàn tỉnh (2,5 triệu đồng/người/tháng). Mức thu nhập của người lao động trong Khu công nghiệp sẽ ngày càng tăng trên cơ sở mức lương tối thiểu được điều chỉnh tăng theo lộ trình tăng lương của Chính phủ và sự phát triển của các Khu công nghiệp. Như vậy, các Khu công nghiệp sẽ đảm bảo việc nâng cao thu nhập bình quân đầu người của tỉnh đảm bảo đạt bằng hoặc vượt 3.500 USD/năm vào năm 2015 theo quy định tại quyết định 23; đồng thời giảm hệ số chênh lệch giàu nghèo, tăng chỉ số phát triển con người.

Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo của các Khu công nghiệp là 100% do khi tuyển dụng một bộ phận lao động đã được đào tạo và bộ phận lao động tốt nghiệp phổ thông sẽ được doanh nghiệp đào tạo tay nghề trong thời gian từ 1 đến 3 tháng sau khi tuyển dụng. Hiện tỷ lệ lao động của các Khu công nghiệp chiếm 19,21% nguồn lao động toàn tỉnh, tương đương tỷ lệ lao động có tay nghề do các Khu công nghiệp cung cấp đạt 19,21% tổng số lao động toàn tỉnh. Với tốc độ tăng dân số tự nhiên và cơ học như hiện nay, dự báo đến năm 2015 tổng nguồn lao động của tỉnh vào khoảng trên 670.000 người; dự báo nhu cầu lao động của các Khu công nghiệp vào năm 2015 khoảng 180.000 người (do một số dự án lớn đi vào hoạt động như dự án của Nokia, giai đoạn 2 của Samsung sẽ làm tăng đột biến lao động trong Khu công nghiệp). Như vậy, đến năm 2015 tỷ lệ lao động đã qua đào tạo của các Khu công nghiệp sẽ chiếm khoảng 30% tổng số lao động toàn tỉnh, cùng với bộ phận lao động ngoài Khu công nghiệp được đào tạo sẽ tăng tỷ lệ lao động đã qua đào tạo của toàn tỉnh. Đồng thời cùng với sự phát triển các Khu công nghiệp là sự phát triển các Khu đô thị mới sẽ làm gia tăng tỷ lệ dân số thành thị, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động. Bên cạnh đó, để đáp ứng nhu cầu về chất lượng lao động cho các Khu công nghiệp, các trường, trung tâm đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh đã có sự phát triển đáng kể. Tính đến nay trên địa bàn tỉnh đã có 51 cơ sở đào tạo nghề được phép hoạt động, trong đó có 30 cơ sở đang hoạt động.

Bốn là, các Khu công nghiệp góp phần tăng thu ngân sách địa phương.

Năm 2005, các Khu công nghiệp nộp ngân sách đạt 51 tỷ đồng, chiếm 5,4% so với cả tỉnh. Đây là thời kỳ các doanh nghiệp mới đi vào hoạt động, đang trong thời gian được hưởng ưu đãi nên đóng góp ngân sách Nhà nước chủ yếu là thuế VAT và thuế môn bài, chưa có thuế thu nhập doanh nghiệp. Qua các năm, tỷ lệ nộp ngân sách của các doanh nghiệp liên tục tăng. Năm 2011, các doanh nghiệp Khu công nghiệp Bắc Ninh đã nộp ngân sách của 2.653 tỷ đồng, chiếm 36.8% tổng thu ngân sách tỉnh; Năm 2012, nộp ngân sách 3.980 tỷ đồng, chiếm 43,9% cả tỉnh (Bảng 3. Bảng tổng hợp nộp ngân sách của các Khu công nghiệp).

Năm là, sự phát triển của các Khu công nghiệp thúc đẩy sự phát triển của các loại hình dịch vụ phục vụ sản xuất công nghiệp.

Việc phát triển các Khu công nghiệp Bắc Ninh đã có tác động lan tỏa đến các hoạt động dịch vụ và ngược lại, các hoạt động dịch vụ đã đáp ứng các yêu cầu của doanh nghiệp giúp doanh nghiệp phát triển sản xuất.

- Đối với lĩnh vực tín dụng, ngân hàng:. Đến nay đã có 33 tổ chức tín dụng, ngân hàng trong và ngoài nước đã mở chi nhánh tại Bắc Ninh để cung cấp các dịch vụ về tài chính, ngân hàng cho các Khu công nghiệp Bắc Ninh (trong đó, ngân hàng quốc doanh 11; Ngân hàng cổ phần 18; Tổ chức tài chính vi mô 01; Phòng giao dịch ngân hàng ngoài địa bàn 03). Nhiều ngân hàng đã mở chi nhánh trực tiếp tại các Khu công nghiệp nhằm chủ động cung cấp các dịch vụ, tiện ích đến với doanh nghiệp Khu công nghiệp như thanh toán lương, thanh toán xuất nhập khẩu, thẻ tính dụng cá nhân …

- Đối với lĩnh vực dịch vụ bưu chính, viễn thông, điện lực: Các công ty cung cấp các dịch vụ này cũng đã cung cấp hạ tầng và dịch vụ đáp ứng yêu cầu cơ bản của doanh nghiệp như VNPT, Viettel, Điện lực Bắc Ninh…

- Dịch vụ Logicstic: Các Khu công nghiệp Bắc Ninh đã xuất hiện các công ty kinh doanh dịch vụ Logicstic nổi tiếng trong và ngoài nước như: Công ty ALS Bắc Ninh, Công ty TNHH Mapletree Logistics Park Bacninh; Công ty Bắc Kỳ, Công ty Sagawa, Công ty TNHH Yusen, Công ty cổ phần Vinafco, Công ty INDO-TRANS KEPPEL, Công ty TNHH Shenker Gemadept; Công ty Linfox .. Các công ty này đã đáp ứng nhu cầu dịch vụ cho các doanh nghiệp một cách chuyên nghiệp.

- Các hoạt động dịch vụ kinh doanh: Cung cấp nhà ở cho công nhân, cung cấp suất ăn công nghiệp, dịch vụ thương mại phục vụ nhu cầu thiết yếu của người lao động … được các địa phương lân cận các Khu công nghiệp cung cấp đã đem lại lợi ích cho cả hai bên. Góp phần nâng cao thu nhập và đời sống cho dân cư xung quanh Khu công nghiệp.

- Các dịch vụ khác như: tiếp cận đất đại, tư vấn pháp lý doanh nghiệp, các dịch vụ, dịch vụ vui chơi giải trí... đã và đang được các tổ chức cá nhân trong và ngoài tỉnh cung cấp, đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp.

Sáu là, sự phát triển các Khu công nghiệp đã đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa; tạo sự phát triển đồng đều giữa các vùng trong tỉnh; góp phần hoàn thiện kết cấu hạ tầng xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái.

Qua 14 năm xây dựng và phát triển, các Khu công nghiệp đã trở thành nhân tố quan trọng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ; tăng trưởng kinh tế nhanh, liên tục trên hai con số và trở thành nhân tố quyết định quá trình CNH, HĐH của tỉnh, đã thúc đẩy liên kết hạ tầng kỹ thuật, góp phần tạo lập và phân bố không gian kinh tế-xã hội của tỉnh, tạo sự phát triển đồng đều, hỗ trợ lẫn nhau giữa khu vực phía Bắc sông Đuống và phía Nam sông Đuống. Các Khu công nghiệp được quy hoạch nằm dọc theo các tuyến Quốc lộ 1, Quốc lộ 18, Quốc lộ 38 và các đường Tỉnh lộ; trong quy hoạch đã cơ bản đảm bảo được sự gắn kết hệ thống hạ tầng kỹ thuật và xã hội trong và ngoài hàng rào Khu công nghiệp về giao thông. Đây cũng là thành công bước đầu của Bắc Ninh về sự gắn kết này.

Các Khu công nghiệp đã khẳng định vai trò rất quan trọng tác động và ảnh hưởng đến quá trình hình thành và phát triển các Khu đô thị của tỉnh Bắc Ninh. Chính hạt nhân từ các Khu công nghiệp đã hình thành các khu đô thị mới, cùng các công trình hạ tầng xã hội đã đưa mạng lưới đô thị của tỉnh ngày càng mở rộng và phát triển. Đến nay, toàn tỉnh có 7 dự án đang triển khai xây dựng nhà ở cho công nhân với tổng diện tích 196.510m2, đáp ứng chỗ ở cho khoảng 26.600 công nhân, đạt khoảng 44,30% số người có nhu cầu thuê nhà ở (26.600/60.015 người), tại 03 Khu công nghiệp: Tiên Sơn, Quế Võ, Yên Phong.

Ngoài ra, toàn tỉnh có 10 Khu đô thị, dịch vụ gắn với Khu công nghiệp, bao gồm:

- 04 Khu đô thị, dịch vụ (diện tích 834 ha) được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt gắn với Khu công nghiệp là: Khu công nghiệp, đô thị và dịch vụ VSIP Bắc Ninh; Khu công nghiệp, đô thị và dịch vụ Yên Phong II; Khu công nghiệp, đô thị và dịch vụ Đại Kim và Khu công nghiệp, đô thị và dịch vụ Nam Sơn - Hạp Lĩnh.

- 06 Khu đô thị, dịch vụ (diện tích 693ha) được UBND tỉnh cho phép đầu tư gắn với Khu công nghiệp là: Khu công nghiệp Tiên Sơn và Khu công nghiệp Quế Võ, Khu công nghiệp Yên Phong, Khu công nghiệp Quế Võ III, Khu công nghiệp Thuận Thành II, III, Khu công nghiệp Đại Đồng - Hoàn Sơn, Khu công nghiệp Từ Sơn.

Các Khu đô thị, dịch vụ sau khi triển khai đầu tư sẽ có công trình văn hóa, cơ sở phúc lợi xã hội và các công trình hạ tầng xã hội khác đáp ứng cho người lao động tại Khu công nghiệp và dân cư địa phương.

Theo đó, hệ thống các tuyến đường giao thông Tỉnh lộ được quy hoạch đầu tư xây dựng nối các Khu công nghiệp, Khu đô thị thành mạng lưới giao thông khép kín, liên hoàn; quy hoạch mạng lưới điện của tỉnh thường xuyên được điều chỉnh, bổ sung; mạng lưới cung cấp nước sạch cho các Khu công nghiệp và Khu đô thị được tỉnh chú trọng đầu tư, nhiều nhà máy cấp nước sạch được xây dựng trên khắp địa bàn tỉnh. Hệ thống hạ tầng viễn thông được đầu tư đồng bộ, hiện đại nhằm cung cấp các dịch vụ tốt nhất cho khách hàng cũng được kéo theo cùng với việc xây dựng hạ tầng các Khu công nghiệp. Việc đầu tư cho môi trường được quan tâm do các bãi rác tập trung vốn đã chật hẹp, hết công suất và chưa có bãi chôn lấp xử lý chất thải rắn, độc hại nay Khu xử lý rác thải hiện đại đã được đầu tư tại huyện Quế Võ với diện tích hơn 40 ha, Nhà máy xử lý rác thải công suất 50tấn/ngày tại Khu công nghiệp Yên Phong do Chủ đầu tư là Tổng Công ty VIGLACERA cũng đang được chuẩn bị đầu tư. Các dịch vụ khác trong Khu công nghiệp như Ngân hàng, Hải quan, bảo hiểm...được hình thành ở hầu hết các Khu công nghiệp đã đi vào hoạt động. Về đảm bảo an ninh trật tự cho các Khu công nghiệp tỉnh quan tâm cho thành lập các Trạm công an Khu công nghiệp. Ngoài ra, hạ tầng xã hội được đầu tư theo tiến độ quy hoạch và xây dựng các Khu công nghiệp như: Trường học, bệnh viện, nhà ở, nhu cầu về dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm, văn hoá, thể thao…

Bên cạnh những thành công về kinh tế, các Khu công nghiệp còn tham gia, đóng góp tích cực vào tổ chức đời sống xã hội. Với việc thiết lập mô hình Khu công nghiệp, đô thị đã góp phần hình thành các khu đô thị mới gắn với phát triển cụm công nghiệp, làng nghề và kiến tạo bộ mặt nông thôn mới. Tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ. Thúc đẩy hạ tầng xã hội như trường học, bệnh viện, nhà ở, nhu cầu về dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm, văn hoá, thể thao…đảm bảo cuộc sống của người lao động, ổn định an sinh xã hội. Góp phần tạo lập và phân bố không gian kinh tế, tạo sự phát triển hài hoà giữa các khu vực trong tỉnh là cơ sở để Bắc Ninh hội nhập và phát triển một cách bền vững.

Những đóng góp trên đã khẳng định các Khu công nghiệp là nhân tố quan trọng thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, góp phần tích cực vào sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng Bắc Ninh trở thành tỉnh công nghiệp với các tiêu chí được xác định theo quyết định số 23/QĐ-UBND ngày 11/5/2012 của UBND tỉnh Bắc Ninh.