Video clip
KCN Quế Võ 3 - Que Vo 3 IP
Số người đang online: 22
Số lượt truy cập: 25565151
Cập nhật: 25/09/2017
Thực hiện Báo cáo trực tuyến về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Khu công nghiệp Bắc Ninh
CHUYÊN ĐỀ: THỰC HIỆN BÁO CÁO TRỰC TUYẾN VỀ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP KHU CÔNG NGHIỆP BẮC NINH

1. Một số vấn đề cơ bản về báo cáo và công tác báo cáo:

1.1. Một số khái niệm cơ bản

- Thông tin: thông tin là một khái niệm rộng, bao gồm: Theo nghĩa hẹp, đó là một điều gì đó được truyền đạt, thông báo hay được nói ra. Ở nghĩa rộng hơn, thông tin là những kiến thức thu nhận được từ các nguồn hay các cách thức khác nhau (sự việc, sự kiện, các dữ liệu, thông qua học tập nghiên cứu, thông qua thực tế trải nghiệm…). Về giác độ dịch vụ, thông tin có thể là việc một cá nhân hay một đơn vị trả lời các câu hỏi hay yêu cầu cho đối tượng khách hàng, đối tượng phục vụ.

- Dữ liệu: Ở nghĩa thông thường, dữ liệu là các thông tin, số liệu có chứng cứ được sắp xếp có tổ chức làm cơ sở để phân tích, lập luận hay ra quyết định. Trong công nghệ thông tin (CNTT), dữ liệu là các thông tin dạng số hoặc các loại thông tin khác được sắp xếp và trình bày hợp lý để có thể xử lý được bằng máy tính..

- Báo cáo bằng văn bản hay văn bản báo cáo tức văn bản có tiêu đề có tên gọi là "Báo cáo" là những văn bản trình bày nội dung trọng tâm, nổi bật hoặc cập nhật cho một đối tượng cụ thể. Báo cáo thường được sử dụng để nêu lên các kết quả của một hoạt động, công tác, một thử nghiệm, điều tra, hoặc báo cáo yêu cầu (báo cáo đột xuất, báo cáo khẩn cấp, báo cáo chuyên đề hoặc báo cáo tham luận....). Đối tượng được báo cáo có thể là công cộng hay tư nhân, một cá nhân hoặc của cộng đồng nói chung.

Báo cáo được sử dụng trong kinh doanhquản lýhành chínhgiáo dụckhoa học, và các lĩnh vực khác. Báo cáo có thể kết hợp sử dụng các tính năng như đồ họa, hình ảnh, âm thanh, giọng nói, hay những thuật ngữ, từ vựng chuyên ngành để thuyết phục rằng đối tượng cụ thể để thực hiện một chương trình hành động và đem lại những kết quả cụ thể được trình bày trong báo cáo.

Báo cáo là hình thức quan trọng trong hoạt động thực tiễn của con người. Nó chính là kết quả thông tin về một loạt các nhu cầu quan trọng đối với nhiều cá nhân, tổ chức quan trọng của xã hội. Báo cáo là một phương pháp rất hữu ích cho việc theo dõi, cập nhật các thông tin quan trọng đồng thời qua đó có thể nắm được, thống kê, kiểm tra rà soát các thông tin, công việc, hoạt động. Thông tin trong các báo cáo được sử dụng để đưa ra những quyết định rất quan trọng ảnh hưởng đến cuộc sống của con người mỗi ngày.

1.2. Công tác báo cáo của doanh nghiệp

Như chúng ta đều biết, hiện nay nhiều doanh nghiệp rối bời vì báo cáo. Doanh nghiệp phải phân phối làm thế nào để có thể vững bước trong thị trường ngách của mình, điều đó phụ thuộc rất nhiều vào các quyết định thông thái của cấp lãnh đạo. Nhưng để làm nên một quyết định sáng suốt, kịp thời, phụ thuộc rất nhiều vào các báo cáo mà lãnh đạo nhận được hàng ngày. Trong khi đó, hai chữ “báo cáo” còn đang gây không ít hoang mang cho toàn doanh nghiệp (DN). Từng bộ phận, phòng, ban, nhân viên trong DN hàng ngày phải thực hiện báo cáo cho quản lý. Không chỉ đơn thuần báo cáo về số liệu mà họ còn phải báo cáo đã đi đâu, làm gì hàng ngày, kết quả quá trình gặp gỡ, trao đổi với từng khách hàng, cơ quan quản lý nhà nước (QLNN) ra sao.

Như vậy, từng bộ phận phòng, ban, nhân viên của DN ngoài việc thực hiện công việc chuyên môn họ còn luôn phải gắn bó với hai từ “báo cáo”. Với số lượng báo cáo bằng giấy nhiều đã thực hiện, đã gây khó khăn cho lãnh đạo khi phân loại, nhập dữ liệu và việc đánh giá trở nên khó khăn hơn do số liệu quá nhiều để xử lý, phân tích. Báo cáo không tốt về số và chất lượng cùng nguyên tắc đảm bảo thời gian gửi thì doanh nghiệp làm thế nào để nhận ra chính xác vấn đề mà tìm cách khắc phục?.

Nghiêm túc nhìn nhận các bất cập mà doanh nghiệp gặp phải mới thấy mọi khó khăn đều đến từ việc tổng hợp báo cáo quá thủ công, điều đó chẳng khác gì nông dân vác cuốc ra đồng trong khi có máy cày. Nhược điểm đầu tiên có thể nhận thấy ở cách làm truyền thống là việc tiêu tốn quá nhiều thời gian. Không chỉ thời gian làm nên báo cáo mà còn mất thời gian để thông tin được truyền tải tới các cấp liên quan. Đấy là chưa kể thông tin thì hỗn loạn, rối bời, thậm chí là “tam sao thất bản”, số liệu báo cáo thì sai lệch, rơi rớt. Các báo cáo cứ thế chồng chéo, mỗi báo cáo sai lệch một chút ảnh hưởng đến việc ra quyết định, tổng hợp số liệu của lãnh đạo DN, cơ quan quản lý khi xây dựng chính sách. Do đó, báo cáo trực tuyến ra đời là giải pháp quan trọng để hạn chế các bất cập của việc thực hiện báo cáo thủ công (báo cáo giấy) như trong những năm vừa qua.

2. Một số vấn đề cơ bản và thực trạng thực hiện báo cáo trực tuyến về hoạt động SXKD của Ban quản lý các Khu công nghiệp Bắc Ninh.

2.1. Áp dụng hình thức báo cáo SXKD tại BQL các KCN:

Hệ thống Báo cáo trực tuyến ORS (Online Report System) được phát triển bởi Đề tài Ứng dụng CNTT trong công tác chỉ đạo, điều hành, QLNN đối với các DN KCN của Ban quản lý các Khu công nghiệp (BQL các KCN) năm 2012. Với các giải pháp hiện đại, báo cáo trực tuyến về tình hình sản xuất kinh doanh (SXKD) của DN trên hệ thống có những tính hữu dụng sau:

* Gửi và nhận Báo cáo theo quy định:

- Tự động quy định ngày gửi

- Gửi thông báo đến DN và ngược lại trên hệ thống bản tin nhắn

- Thực hiện chế độ Báo cáo định kỳ: năm, quý, tháng hoặc báo cáo đột xuất khi có yêu cầu.

* Hỗ trợ hiệu quả cho công tác tổng hợp, điều hành

- Giúp BQL các KCN tổng hợp dễ dàng, nhanh chóng, chính xác

- Quản lý và khai thác số liệu khoa học, dễ phân tích

* Hỗ trợ hiệu quả cho các DN KCN:

- Dễ dàng, nhanh chóng, chính xác và tiết kiệm nhất..

- Hệ thống bảo mật an toàn

- Bảo mật nhiều lớp bằng phần cứng và phần mềm. Ngăn chặn tối đa tấn công dữ liệu và đánh cắp thông tin.

- Lưu và khai thác số liệu hiệu quả, tối ưu.

Theo đó, chế độ báo cáo SXKD của DN trải qua 3 giai đoạn:

* Giai đoạn từ năm 2003 đến năm 2009, công tác thống kê, báo cáo số liệu giữa BQL các KCN với các DN KCN hầu như vẫn thực hiện theo phương pháp thủ công. DN gửi công văn kèm theo bảng biểu thống kê số liệu lên BQL các KCN, BQL các KCN tổng hợp số liệu (một cách thủ công dưới dạng giấy hoặc file (tệp văn bản) dữ liệu đơn lẻ, ví dụ excell) của các DN để gửi lên Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh, các bộ, ngành, đồng thời sao gửi 1 số sở ngành có liên quan.

* Giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2012, BQL các KCN thực hiện thống kê, báo cáo SXKD của DN qua các hình thức: 1) báo cáo trực tiếp bằng văn bản; 2) báo cáo gửi qua địa chỉ mail chung của BQL các KCN qua hộp thư đã thiết lập theo mẫu báo cáo theo định dạng văn bản word hoặc excell, Ban thực hiện công tác tổng hợp thủ công để gửi UBND tỉnh, các bộ, ngành có liên quan.

* Giai đoạn từ 2013 đến nay: BQL các KCN thực hiện thống kê, báo cáo SXKD của DN qua 1 hình thức duy nhất là báo cáo trực tuyến qua hệ thống phần mềm đã xây dựng. Sau khi nhà đầu tư được cấp giấy chứng nhận đầu tư (GCNĐT)/giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (GCNĐKĐT), BQL các KCN sẽ cấp 01 tên tài khoản “use name” và 01 mật khẩu “pass word” để thực hiện việc báo cáo hàng tháng. Theo hình thức này, báo cáo số liệu trực tuyến có mục tiêu tin học hóa công tác thống kê, tổng hợp, khai thác dữ liệu, số liệu được thuận tiện, nhanh chóng, đáp ứng yêu cầu quản lý của các cơ quan QLNN và rất kinh tế. Điều này giúp cho các cơ quan nhà nước trong công tác tổng hợp, thống kê, xây dựng chính sách; và là phần mềm rất hữu ích đối với DN, cụ thể:

- Đối với cơ quan nhà nước: Hệ thống Thống kê, báo cáo số liệu trực tuyến có các chức năng và ưu điểm cơ bản sau:

+ Chức năng quản trị, phân quyền người dùng: Đảm bảo bảo mật số liệu, và phân quyền hạn giữa các cấp, giữa các đơn vị chuyên môn.

+ Chức năng cập nhật số liệu: Cho phép cập nhật số liệu trực tiếp hoặc chuyển đổi từ file dữ liệu có sẵn.

+ Các công cụ tổng hợp số liệu: Cho phép tổng hợp số liệu do các đơn vị cấp dưới gửi theo yêu cầu của người khai thác.

+ Chức năng gửi số liệu thống kê: Cho phép gửi các biểu mẫu báo cáo thống kê lên cấp cao hơn.

+ Chức năng quản lý chỉ tiêu thống kê, đối tượng thống kê, các mẫu báo cáo số liệu: Cho phép định nghĩa mới, chỉnh sửa chỉ tiêu, đối tượng thống kê và các mẫu báo cáo số liệu phù hợp với yêu cầu mới.

+ Chức năng lưu trữ số liệu thống kê theo các năm: Lưu trữ lịch sử số liệu phục vụ nhu cầu dự báo và phân tích số liệu.

+ Chức năng hỗ trợ công tác dự báo.

Có thể nói, thay vì việc tổng hợp từ các file excel rồi phân tích, tổng hợp, đánh giá như phương thức cũ thì hình thức này tiện ích của nó được coi như là một nhân viên luôn luôn trung thực.

- Đối với các DN: “Nhẹ người” hơn với hai từ “báo cáo” bởi vũ khí công nghệ mới. Hầu hết các chuyên gia kinh tế đều cho rằng, quan ngại lớn nhất đến từ các doanh nghiệp là việc chưa mạnh dạn khai thác “vũ khí” thời công nghệ để gia tăng sức cạnh tranh. Một phần mềm quản lý hệ thống báo cáo trực tuyến rõ ràng có thể giúp hai chữ “báo cáo” không còn là cơn ác mộng của toàn doanh nghiệp. Thậm chí báo cáo còn là công cụ đắc lực để nhà quản lý đưa ra các quyết sách kịp thời phục vụ cho hoạt động kinh doanh. Điểm tiện ích lớn nhất của phần mềm báo cáo trực tuyến này là tốc độ, tính chính xác và sự thông minh. Trong đó, tổng hợp được các chỉ tiêu về SXKD và hoạt động kinh tế của DN theo tháng và lũy kế đến thời điểm báo cáo tính từ 01/01 đến 31/12 hàng năm, như:

1) Giá trị sản xuất công nghiệp;

2) Doanh thu;

3) Giá trị xuất khẩu;

4) Giá trị nhập khẩu;

5) Tổng vốn đầu tư đăng ký;

6) Tổng vốn đầu tư thực hiện;

7) Thực hiện việc góp vốn điều lệ của DN;

8) Số nộp ngân sách – bao gồm: các khoản được khấu trừ, thực nộp ngân sách; số nộp cho cơ quan Hải quan; số nộp cho cơ quan Thuế.

Các chỉ tiêu trên đáp ứng phần nào yêu cầu theo dõi, quản lý của cơ quan nhà nước đối với doanh nghiệp và DN với tình hình tài chính của mình.

Tốc độ: các báo cáo được tự động cập nhật nhanh, liên tục, xóa tan mọi trở ngại về không gian và thời gian. Tính chính xác: không có bất kỳ sự nhầm lẫn nào trong sao chép số liệu hay hiện tượng “xào nấu số liệu”. Mọi con số đều tường minh bởi phần mềm và có sự liên kết, logic giữa các tháng, quý, 6 tháng, năm. Thông minh: báo cáo được thực hiện bởi các thuật toán tinh vi, đáp ứng chính xác, đầy đủ mọi nhu cầu của người sử dụng mà không cần đến hoạt động tổng hợp, phân tích của con người. Bên cạnh đó, Lãnh đạo DN có thể tin tưởng phó thác, phân công mọi báo cáo các bộ phận có liên quan, đồng thời có thể giám sát mọi hoạt động tài chính, SXKD của DN sau khi đã thực hiện báo cáo; có thể đánh giá năng lực, nỗ lực làm việc thực tế của từng nhân viên khi được giao nhiệm vụ làm báo cáo, để từ đó lãnh đạo biết được số liệu thực tế hoạt động kinh doanh đang diễn ra như thế nào được “phơi bày” cụ thể để có các chỉ đạo kịp thời điều chỉnh các chỉ tiêu, chính sách sao cho phù hợp, cũng như nhận xét, đánh giá nhân viên cấp dưới khi quản trị mạng.

2.2. Thực trạng thực hiện báo cáo trực tuyến SXKD tại BQL các KCN:

a. Tổng hợp chung báo cáo:

- Tính đến hết tháng 6/2017, ngoài 164 dự án đã thu hồi, chấm dứt hoạt động, BQL các KCN đã lập 876 tài khoản báo cáo cho 876 DN KCN, bao gồm:

+ 784 DN đã đi vào hoạt động;

+ 54 dự án chậm/chưa triển khai;

+ 18 dự án ngừng hoạt động;

+ Số còn lại là dự án mới được cấp GCNĐKĐT, đang triển khai xây dựng.

- Từ khi áp dụng hình thức báo cáo trực tuyến (năm 2013) đến nay có 636 tài khoản đã thực hiện báo cáo ít nhất từ 01 báo cáo, trong đó DN thực hiện nhiều báo cáo nhất và thường xuyên, liên tục là 60 (Akebono Kasei), riêng Samsung Electronics thực hiện 58 báo cáo (tức 58 tháng). Số báo cáo được đánh giá là thực hiện đầy đủ được tính kể từ khi đi vào hoạt động SXKD đến nay, số lượng báo cáo nộp nhiều cũng chưa thể hiện được việc nộp đầy đủ hay không. Tuy nhiên, cũng cho chúng ta thấy một con số tương đối về việc chấp hành chế độ báo cáo của DN.

- Có 314 tài khoản được lập (cho DN đã thực hiện cấp GCNĐKĐT, bao gồm cả DN đã đi vào hoạt động hoặc chưa đi vào hoạt động) nhưng chưa thực hiện bất kỳ một báo cáo nào. Trong đó: Hanaka: 03; Quế Võ 1: 69; Quế Võ 2: 7; Thuận Thành 2, 3: 30; Tiên Sơn: 92; Vsip: 18; Yên Phong: 35; Đại Đồng – Hoàn Sơn: 60. Theo số liệu tổng hợp trên cho thấy, số tài khoản chưa thực hiện báo cáo chiếm tỉ lệ cao so với số tài khoản được cấp là KCN Tiên Sơn (92/213 = 43,2%)..

- Có 240 tài khoản được lập cho DN đã đi vào hoạt động nhưng chưa thực hiện bất kỳ một báo cáo nào. Trong đó: Hanaka: 03; Quế Võ 1: 53; Quế Võ 2: 6; Thuận Thành 2, 3: 24; Tiên Sơn: 78; Vsip: 7; Yên Phong: 24; Đại Đồng – Hoàn Sơn: 48. Theo số liệu tổng hợp trên cho thấy, số tài khoản chưa thực hiện báo cáo chiếm tỉ lệ cao so với số tài khoản được cấp là KCN Yên Phong (24/86 = 28%).

* Nhận xét:

- Số DN sau khi được cấp GCNĐKĐT được cấp mã tài khoản làm báo cáo trực tuyến chưa được đầy đủ do sau khi được cấp GCNĐKĐT, nhà đầu tư không được hướng dẫn liên hệ, làm việc với các phòng chuyên môn để thực hiện các thủ tục liên quan đến báo cáo.

- Số DN đã được cấp tài khoản, đến thời gian đi vào hoạt động theo đăng ký tại GCNĐKĐT nhưng chưa triển khai đầu tư, xây dựng cơ bản nên chưa thực hiện công tác báo cáo.

- Số DN đã thu hồi GCNĐKĐT/ngừng hoạt động/chấm dứt hoạt động là 164 đã được xóa tài khoản.

- 240 tài khoản được lập, DN đã đi vào hoạt động SXKD nhưng chưa thực hiện báo cáo mặc dù đã được hướng dẫn chi tiết, đặc biệt là KCN Tiên Sơn, Yên Phong, Quế Võ 1…tập trung chủ yếu ở DN có quy mô vốn nhỏ, hoạt động không hiệu quả, chủ DN không quan tâm đến việc chấp hành chế độ báo cáo.

b. Tình hình thực hiện báo cáo theo năm: từ năm 2014 – 6/2017

- Năm 2014:có 4.154 báo cáo được nộp qua hệ thống mạng trực tuyến. Tháng 6 đạt số báo cáo cao nhất là 362; tháng 12 có số báo cáo nộp ít nhất trong năm là 318/453 DN đi vào hoạt động (=70%). Tính bình quân trong năm thì 2014 đạt 346 báo cáo/tháng.

- Năm 2015: có 3.798 báo cáo được nộp qua hệ thống mạng trực tuyến. Tháng 1 đạt số báo cáo cao nhất là 353; tháng 12 có số báo cáo nộp ít nhất trong năm là 278/632 DN đi vào hoạt động (=44%). Tính bình quân trong năm thì 2015 đạt 316 báo cáo/tháng.

- Năm 2016: có 3.362 báo cáo được nộp qua hệ thống mạng trực tuyến. Tháng 1 đạt số báo cáo cao nhất là 313; tháng 12 có số báo cáo nộp ít nhất trong năm là 238/750 DN đi vào hoạt động (=32%). Tính bình quân trong năm thì 2016 đạt 280 báo cáo/tháng.

- 6 tháng đầu năm 2017: có 1.483 báo cáo được nộp qua hệ thống mạng trực tuyến. Tháng 1 đạt số báo cáo cao nhất là 305; tháng 6 có số báo cáo nộp ít nhất trong 6 tháng đầu năm là 133/781 (=17%) DN đi vào hoạt động. Tính bình quân trong 6 tháng đàu năm 2017 đạt 247 báo cáo/tháng.

* Nhận xét:

- Số liệu về báo cáo theo năm cho thấy: tỉ lệ DN nộp báo cáo trực tuyến/tổng số DN đi vào hoạt động ngày càng giảm. Đặc biệt là theo xu thế: tăng về tháng 1 và giảm thấp vào tháng 12. Điều này đồng nghĩa với việc cuối năm, DN còn tập trung thời gian cho khóa sổ nên báo cáo tháng 12 còn chưa được tập trung, đến tháng 1 (tức báo cáo được thực hiện trong khoảng thời gian từ 01/2-21/2) là thời gian rảnh, khi các đơn hàng vãn, công tác khóa sổ, thực hiện nhiệm vụ chốt chu trình quản lý tài chính, kế toán, sản xuất, dịch vụ của năm trước đã kết thúc nên DN mới tập trung vào các công việc khác (trong đó có báo cáo trực tuyến về SXKD).

- Số báo cáo bình quân trong năm cũng theo xu hướng giảm dần, do nhiều nguyên nhân: sự thay đổi nhân sự; số DN mới đi vào hoạt động  trong năm cũng tăng nhưng DN mới chưa ổn định bộ máy nên chưa chú trọng đến công tác nộp báo cáo trực tuyến; hệ thống các chế tài xử lý của bộ máy nhà nước chưa được nghiêm nên DN ngày càng chây ỳ với các quy định về báo cáo thống kê đối với các cơ quan nhà nước.

c. Báo cáo phân theo loại hình doanh  nghiệp

- Năm 2014: Tính theo số báo cáo bình quân năm: DN có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) nộp 269/346 báo cáo, đạt 77,7% tổng số bình quân năm của DN nộp báo cáo; DN có vốn đầu tư trong nước (DNTN) nộp 77/346 báo cáo, đạt tỉ lệ 22,3% tổng số bình quân năm của DN nộp báo cáo. Tính chung cả năm: DN FDI nộp 3.224/4.154 báo cáo, đạt tỉ lệ 77,6%; DNTN nộp 930/4.154 báo cáo, đạt 22,4% tổng số báo cáo nộp.

- Năm 2015: Tính theo số báo cáo bình quân năm thì: DN FDI nộp 268/316 báo cáo, đạt 84,8% tổng số bình quân năm của DN nộp báo cáo; DN DNTN (DNTN) nộp 48/316 báo cáo, đạt tỉ lệ 15,2% tổng số bình quân năm của DN nộp báo cáo. Tính chung cả năm: DN FDI nộp 3.222/3.798 báo cáo, đạt tỉ lệ 84,8%; DNTN nộp 576/3.798 báo cáo, đạt 15,2% tổng số báo cáo nộp.

- Năm 2016: Tính theo số báo cáo bình quân năm thì: DN FDI nộp 240/280 báo cáo, đạt 85,7% tổng số bình quân năm của DN nộp báo cáo; DN DNTN (DNTN) nộp 40/280 báo cáo, đạt tỉ lệ 14,3% tổng số bình quân năm của DN nộp báo cáo. Tính chung cả năm: DN FDI nộp 2.891/3.362 báo cáo, đạt tỉ lệ 86%; DNTN nộp 471/3.362 báo cáo, đạt 14% tổng số báo cáo nộp.

- 6 tháng đầu năm 2017: Tính theo số báo cáo bình quân 6 tháng đầu năm thì: DN FDI nộp 209/247 báo cáo, đạt 84,6% tổng số bình quân 6 tháng đầu năm của DN nộp báo cáo; DNTN nộp 38/247 báo cáo, đạt tỉ lệ 15,4% tổng số bình quân 6 tháng đầu năm của DN nộp báo cáo. Tính chung 6 tháng đầu năm: DN FDI nộp 1.253/1.483 báo cáo, đạt tỉ lệ 84,5%; DNTN nộp 230/1.483 báo cáo, đạt 15,5% tổng số báo cáo nộp.

* Nhận xét:

- DN FDI chấp hành chế độ báo cáo trực tuyến tốt hơn DNTN, cụ thể từ năm 2014 đến 6 tháng đầu năm 2017, tỉ lệ lần lượt là: 77,7%; 84,8%; 85,7%; 84,6%. Cho thấy: tỉ lệ về cơ bản ngày càng tăng đồng nghĩa với việc DNTN chấp hành không tốt về chế độ báo cáo trực tuyến và có xu hướng ngày càng giảm dần. Nguyên nhân: do DN FDI có bộ máy nhân sự chịu trách nhiệm cao trong việc phân công công việc; bộ máy lãnh đạo của DN FDI chủ yếu là người nước ngoài, khi đến đầu tư tại Việt Nam, họ cố gắng chấp hành tốt các quy định của nước sở tại (trừ một số DN FDI có vốn đầu tư nhỏ, hoạt động kém hiệu quả).

- Số DNTN chấp hành chế độ báo cáo thường xuyên chủ yếu là các Công ty cổ phần, DN có vốn sở hữu từ nhà nước; Công ty trách hiệm hữu hạn có vốn đầu tư lớn…Họ luôn có ý thức chấp hành tốt các quy định của nhà nước, trong đó có chế độ báo cáo, thống kê.

d). Báo cáo phân theo Khu công nghiệp

Tình hình thực hiện báo cáo theo KCN qua các năm như sau:

DNHĐ: doanh nghiệp hoạt động

HL: Hạp Lĩnh

Khu công nghiệp

Tháng 12/2014/DNHĐ

(453 DN)

Tháng 12/2015/DNHĐ (632 DN)

Tháng 12/2016/DNHĐ (750DN)

6 tháng năm 2017/DNHĐ

(781 DN)

Tiên Sơn

88/151= 58,3%

69/192=35,9%

57/213 = 26,8%

30/213 = 14,1%

Đại Đồng - HS

46/67 = 68,7%

46/102= 45,1%

41/136= 30,1%

19/140 = 13,6%

Thuận Thành 3

8/14 = 57,1%

6/32 = 18,8%

8/40 = 20%

6/45 = 13,3%

Yên Phong

41/53 = 77,4%

39/69 = 56,5%

31/84 = 36,9

23/86 = 26,7%

Vsip

27/29 = 93,1%

24/40 = 60%

23/42 = 54,8%

14/45 = 31,1%

Thuận Thành 2

0

0/1 = 0%

0/2 = 0%

0/2 = 0%

Quế Võ 1

104/136 =76,5%

91/187=48,7%

73/218 = 33,5%

38/234 = 16,2%

Quế Võ 2

2/2 = 100%

3/8 = 37,5%

4/14 = 28,6%

3/15 = 20%

Nam Sơn - HL

0

0

0

0

Hanaka

1/1 = 100%

0/1 = 0%

1/1 = 100%

0/1 = 0%

Gia Bình

0

0

0

0

* Nhận xét:

- Những năm mới triển khai hệ thống báo cáo trực tuyến thì DN tại các Khu thực hiện tương đối tốt do mới được tập huấn, hướng dẫn. Tuy nhiên, càng về thời gian gần đây thì số lượng DN nộp báo cáo càng giảm dần, do yếu tố thay đổi nhân sự làm công tác báo cáo là chủ yếu.

- KCN đạt tỉ lệ nộp báo cáo cao nhất là Vsip, bởi KCN này có số DN FDI chiếm tỉ lệ cao nhất so với các KCN khác.

- KCN đạt tỉ lệ chấp hành báo cáo kém nhất là: Tiên Sơn, Đại Đồng – Hoàn Sơn, Thuận Thành 3: các KCN này tập trung chủ yếu là DN nhỏ và vừa, DNTN, số DN đi vào hoạt động SXKD nhiều nhưng chưa chấp hành tốt chế độ báo cáo, thống kê.

- 02 KCN là Nam Sơn – Hạp Lĩnh và Gia Bình chưa triển khai đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng KCN. Hiện, đã và đang trong quá trình chuẩn bị thu hồi GCNĐT đối với chủ đầu tư nên không có báo cáo và báo cáo từ các  DN thứ cấp.

- Nếu chỉ tính về số lượng chưa nộp báo cáo thì KCN Quế Võ 1 có chiếm lượng lớn, 6 tháng đầu năm 2017 còn 196/781 DN đi vào hoạt động chưa nộp báo cáo (= 25,1% so với toàn khu CN).

2.3. Một số tồn tại, hạn chế và nguyên nhân

a). Tồn tại, hạn chế

* Về phía doannh nghiệp

- Số lượng DN thực hiện báo cáo trực tuyến ngày càng giảm dần trong khi số DN được cấp tài khoản sử dụng ngày càng tăng.

- Số dữ liệu, số liệu trong báo cáo còn bị bỏ trống (đặc biệt là chỉ tiêu “Vốn đầu tư thực hiện”).

- Số báo cáo nộp đầy đủ nhất trong năm là tháng 1, đây là số liệu của tháng đầu tiên trong năm, cho thấy việc định hình nộp báo cáo của DN thực chất chưa được quan tâm, chú trọng.

- Thường xuyên thay đổi nhân sự chịu trách nhiệm làm công tác báo cáo, trong khi người kế nhiệm không được bàn giao, hướng dẫn làm báo cáo trực tuyến, dẫn đến tình trạng có DN thời gian đầu mới đi vào hoạt động thực hiện tương đối đầy đủ báo cáo nhưng càng về sau thì công tác thực hiện báo cáo trực tuyến càng không được thực hiện, gần như bỏ hẳn.

- Số báo cáo nộp ít nhất trong năm là tháng 12, đây là báo cáo của tháng cuối năm, là báo cáo quan trọng nhất trong năm. Tuy nhiên, là thời gian này DN thường tập trung cho kết thúc năm hoạt động tài chính và các hoạt động về SXKD nên người làm báo cáo còn lơ là, chưa đặt mục tiêu ưu tiên công việc quan trọng theo thứ tự, công việc.

- Về mặt khách quan, vẫn còn hạn chế nhất định về hiểu biết và sử dụng CNTT đối với DN vì không phải ai cũng biết sử dụng máy tính nhất là người lớn tuổi, hoặc DN tư nhân.

 - Ngoài ra, nhiều DN vẫn còn tâm lý muốn đến làm việc trực tiếp với cơ quan Nhà nước hơn là gửi báo cáo qua mạng, đây là khó khăn chung đối với cả các nước khác trên thế giới chứ không riêng nước ta. Nhiều người vẫn có suy nghĩ rằng không biết báo cáo gửi qua mạng có pháp lý cao hay không vì không cần chữ ký của đại diện DN, bên cạnh đó, cả người quản lý và người làm báo cáo còn chưa tin tưởng về số liệu tổng hợp mà người làm báo cáo đưa ra. Hoặc người làm báo cáo còn sợ trách nhiệm về số liệu tổng hợp.

* Về phía BQL các KCN các KCN

- Có nhiều khó khăn, về chủ quan, Phòng Quản lý Doanh nghiệp đã xây dựng văn bản hướng dẫn đôn đốc nhưng về mặt đầu tư thời gian để đôn đốc, nhắc nhở còn hạn chế nên việc giám sát tình hình thực hiện báo cáo trực tuyến còn chưa được chú trọng.

- Số lượng cán bộ, chuyên viên thực hiện công tác đôn đốc, tổng họp báo cáo trực tuyến còn hạn chế do ít về số lượng nhưng khối lượng công việc chuyên môn quá nhiều, đặc biệt là việc giám sát quá trình hoạt động SXKD của DN, thực hiện nhiều loại báo cáo của Ban, tổ chức nhiều cuộc họp với các DN chậm triển khai, kiến nghị, tranh chấp đất đai, tiếp và đưa báo đài đến DN làm việc…

- Dữ liệu khai thác phục vụ cho công tác quản lý còn chưa đồng bộ, nhiều bộ phận phòng ban phải thực hiện báo cáo theo các Luật chuyên ngành khác nhau, do đó, DN, phòng ban phải thực hiện nhiều kiểu báo cáo khác nhau. Các dữ liệu trong mỗi loại báo cáo đều khác nhau nên việc tích hợp chung vào 1 loại báo cáo còn gặp nhiều khó khăn và không khả thi.

- Hệ thống báo cáo trực tuyến hiện nay chỉ mang tính nội bộ, chưa có sự đồng bộ hóa dữ liệu, tra cứu liên thông và tích hợp dữ liệu giữa các cơ quan, đơn vị nên việc khai thác số liệu chưa được sử dụng triệt để.

- Ngoài ra, các cơ quan Nhà nước chưa có biện pháp đủ mạnh với doanh nghiệp không thực hiện chế độ báo cáo, hiện còn thiếu quy định mang tính pháp lý trong việc tiếp nhận, xử lý báo cáo trực tuyến.

b) Nguyên nhân của tồn tại, hạn chế

* Về phía doanh nghiệp

- Số lượng DN thực hiện báo cáo trực tuyến ngày càng giảm do DN ngày càng lơ là với chế độ báo cáo khi mật độ báo cáo SXKD phải thực hiện thường xuyên trong năm (tháng/lần). Bên cạnh đó, DN không muốn số liệu liên quan đến tài chính, SXKD phải thường xuyên phân tán ra bên ngoài.

- Số dữ liệu, số liệu trong báo cáo còn bị bỏ trống (đặc biệt là chỉ tiêu “Vốn đầu tư thực hiện”) do người làm báo cáo còn chưa hiểu thực chất dữ liệu cần báo cáo hoặc muốn trốn tránh số liệu liên quan đến hoạt động đầu tư.

- Số báo cáo nộp đầy đủ nhất trong năm là tháng 1 có liên quan đến tháng đầu năm khi công việc ít, người làm báo cáo rảnh rỗi việc nên mới tập trung vào làm báo cáo.

- Nhân sự thay đổi công việc khác hoặc chuyển công tác vì các lý do khác nhau nên thường có tâm lý: việc ai làm người đó phải chịu trách nhiệm. Cho nên khi thôi làm công tác báo cáo, không cho người kế nhiệm mật khẩu tài khoản, không bàn giao, hướng dẫn làm báo cáo trực tuyến, cũng như không thông báo các công việc phải làm dẫn đến việc DN không thực hiện công tác báo cáo trực tuyến sau khi thay đổi nhân sự.

- Thường, tháng 12 hàng năm, DN tập trung cho kết thúc năm hoạt động tài chính và các hoạt động về SXKD nên người quản lý chưa giám sát được nhân viên trong tất cả các hoạt động, công việc cấp dưới phải làm. Theo đó, việc báo cáo là công việc phụ của người làm báo cáo, họ chỉ tập trung vào giải quyết các công việc chính đang đảm nhận, nhất là công tác quyết toán tài chính năm. Do đó, báo cáo tháng 12 thường chưa được thực hiện đầy đủ.

- Khi tiếp nhận nhân viên, người quản lý (nhất là đối với DN tư nhân, DN có DNTN) không quan tâm nhiều đến các điều kiện phụ như ngoại ngữ, tin học đối với các ứng viên mà học hỉ quan tâm đến năng lực chuyên môn và kinh nghiệm làm việc. Cho nên, nhiều nhân viên (đặc biệt là lao động cao tuổi) khi được tiếp nhận làm việc còn có hạn chế nhất định về hiểu biết và sử dụng CNTT, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến việc khi giao họ làm báo cáo trực tuyến.

 - Sự ảnh hưởng của tâm lý thực hiện chế độ báo cáo kiểu cũ: có chữ ký của đại diện DN, con dấu…mới là hợp pháp và mang tính pháp lý cao. Hay việc sợ trách nhiệm của người làm báo cáo; không tin tưởng cấp dưới của người quản lý.. cũng ảnh hưởng đến kết quả thực hiện công tác báo cáo trực tuyến.

* Về phía BQL các KCN các KCN

- Văn bản hướng dẫn thực hiện chế độ báo cáo trực tuyến của BQL các KCN xây dựng từ năm 2013, DN lại thường xuyên thay đổi nhân sự nên không lưu trữ văn bản, dẫn đến nhiều DN chưa biết đến việc phải thực hiện chế độ báo cáo trực tuyến mà vẫn thực hiện báo cáo giấy hoặc không thực hiện. Công tác giám sát, đôn đốc của cơ quan nhà nước còn chưa được thường xuyên do nhân sự phòng chuyên môn số lượng ít.

- Quá nhiều báo cáo của các bộ chuyên ngành với nhiều dữ liệu đã làm khó cho DN khi thực hiện báo cáo. Nhiều dữ liệu khác nhau và có báo cáo quá chi tiết nên không thể tích hợp chung vào 1 hệ thống báo cáo hiện có của Ban. Chưa có sự phối hợp giữa các bộ, ngành từ cấp trung ương đế cơ sở nên chưa khai thác triệt để dữ liệu phục vụ cho công tác quản lý. Theo phần mềm đã xây dựng và triển khai thì Hệ thống chỉ tiêu báo cáo của Ban hiện nay còn chưa đầy đủ, chưa đồng bộ nên quá trình khai thác số liệu còn gặp khó khăn, bất cập.

- Việc áp dụng các biện pháp mạnh của các cơ quan Nhà nước đối với doanh nghiệp không thực hiện/thực hiện thiếu/thiếu chỉ tiêu của chế độ báo cáo chưa được thực hiện do tâm lý chủ yếu là hướng dẫn, đôn đốc, nhắc nhở. Bên cạnh đó, hiện còn thiếu quy định mang tính pháp lý trong việc tiếp nhận, xử lý báo cáo trực tuyến đã ảnh hưởng lớn đến quá trình QLNNđối với DN về thực hiện chế độ thông tin, báo cáo.

3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thực hiện chế độ báo cáo trực tuyến vế hoạt động SXKD của BQL các KCN.

a) Đối với doanh nghiệp

- Sau khi đi vào hoạt động SXKD phải cử nhân viên chịu trách nhiệm làm báo cáo trực tuyến theo đúng quy định. Trong quá trình thay đổi nhân sự phải được bàn giao, hướng dẫn, tiếp nhận việc làm báo cáo; đồng thời thông báo cho BQL các KCN các KCN để nắm bắt, tiếp nhận, đôn đốc.

- Thiết lập để sử dụng 01 email cố định chung của Công ty để thuận tiện trong quá trình tiếp nhận, trao đổi thông tin từ cơ quan nhà nước với DN được kịp thời, chính xác; không cho phép sử dụng mail cá nhân để liên lạc với cơ quan nhà nước, đặc biệt là công tác thực hiện chế độ báo cáo theo quy định; đồng thời, tránh trường hợp khi thay đổi nhân sự thì người kế tiếp không tiếp nhận được thông tin quản lý từ các cơ quan nhà nước.

- Thực hiện nghiêm túc, đầy đủ, chính xác về số liệu, dữ liệu báo cáo cho cơ quan nhà nước. Người đứng đầu DN, đơn vị làm báo cáo phải chịu trách nhiệm về tính chính xác, kịp thời, khoa học của số liệu báo cáo đã gửi cơ quan nhà nước.

- Cử nhân viên có trách nhiệm tham gia đầy đủ các hội nghị tuyên truyền, tập huấn về chế độ báo cáo, thống kê theo đúng quy định.

b). Đối với cơ quan nhà nước

- Chính phủ cần có quy định, chế tài về tiếp nhận và xử lý báo cáo trực tuyến trong đó quy định rõ trách nhiệm đối với cơ quan Nhà nước, doanh nghiệp trong việc đảm bảo tính pháp lý, thực hiện nghiêm túc, khai thác số liệu của báo cáo trực tuyến.

- Chính phủ cần quy định thống nhất các cơ sở dữ liệu, số liệu cần khai thác, tổng hợp giữa các bộ, ngành từ trung ương đến địa phương từ chế độ báo cáo, thống kê, hình thức báo cáo, dữ liệu, chỉ tiêu, thời gian (tức việc có thể tích hợp nhiều báo cáo thành 1 báo cáo)…đến việc trao đổi các văn bản, hồ sơ điện tử qua môi trường mạng nhằm giảm thiểu số lượng báo cáo cho DN.

- BQL các KCN các KCN cần rà soát, xây dựng, chỉnh sửa hệ thống báo cáo trực tuyến với nhà cung cấp phần mềm để giảm thiểu các báo cáo cho DN. Trong đó, nên có lộ trình thực hiện, lựa chọn chỉ tiêu phù hợp, cần thiết để triển khai, dữ liệu cần rõ ràng, dễ hiểu, khoa học để người làm có cơ sở thực hiện đầy đủ.

- BQL các KCN cần triển khai báo cáo trực tuyến với những dữ liệu, chỉ tiêu áp dụng chung với tất cả DN để dễ khai thác và các chỉ tiêu này không quá phức tạp. Vì nếu chỉ tiêu quá phức tạp, liên quan đến bí mật DN hoặc DN đặc thù thì khi triển khai dễ bị “lỗi”, DN sẽ không muốn làm, không muốn báo cáo hoặc báo cáo thiếu chỉ tiêu; đồng thời, báo cáo mà “lỗi” thì DN sẽ có ấn tượng không tốt và không muốn báo cáo nữa.

- BQL các KCN phải tăng cường đẩy mạnh công tác tuyên truyền cho DN biết về nghĩa vụ thực hiện, thời gian thực hiện báo cáo của mình để họ có trách nhiệm thực hiện theo đúng thời gian, nội dung quy định. Nên có quy định cụ thể doanh nghiệp phải sử dụng chung hệ thống báo cáo trực tuyến mà không phải sử dụng báo cáo giấy để phục vụ cho công tác xử lý, khai thác, tổng hợp dữ liệu.

- Trước mắt, cần tuyên truyền và hướng dẫn cho DN mới đi vào hoạt động, DN chưa/ngừng thực hiện chế độ báo cáo cách sử dụng hệ thống báo cáo, có các hướng dẫn cụ thể trên trang Website (trang thông tin điện tử) của Ban và hướng dẫn qua điện thoại hotline, “chát” trên mạng… để hướng dẫn trực tiếp cho DN cách sử dụng báo cáo trực tuyến. Thông qua kết quả thực hiện báo cáo trực tuyến để BQL các KCN thông báo cho các đoàn thanh tra, kiểm tra (nếu không thực hiện) để xử lý nghiêm, thông báo cho đối tác, khách hàng trong quá trình đánh giá việc thực hiện quy định của pháp luật đối với các nhà cung cấp; đồng thời, ghi nhận đối với những DN thực hiện tốt để vận dụng vào quá trình khen thưởng, tôn vinh DN hàng năm.

- BQL các KCN các KCN sau khi xây dựng, chỉnh sửa lại hệ thống báo cáo trực tuyến cần mở thêm các lớp tập huấn, bồi dưỡng về công tác báo cáo trực tuyến, mở rộng đối tượng tham gia tập huấn tới 100% DN được cấp tài khoản. Hội nghị được triển khai tới từng KCN hoặc theo địa bàn KCN để thu được kết quả tốt nhất.

- BQL các KCN phải phân công, phân nhiệm các phòng, đơn vị thường xuyên có hoạt động làm việc, kiểm tra tại DN có trách nhiệm đôn đốc, hướng dẫn DN thực hiện chế dộ báo cáo trực tuyến theo đúng quy định.

- BQL các KCN giao 01 phòng làm bộ phận thường trực tiếp nhận báo cáo; mỗi phòng có chỉ tiêu trong báo cáo cử 01 cán bộ làm đầu mối chịu trách nhiệm quản lý, khai thác, vận hành hệ thống báo cáo này theo quy định.

- BQL các KCN chỉ đạo Phòng Quản lý Đầu tư phối hợp với Phòng Quản lý Doanh nghiệp hướng dẫn DN, đồng thời cấp tài khoản sử dụng báo cáo cùng với thời gian nhận GCNĐKĐT. Các phòng chuyên môn có trách nhiệm đôn đốc DN thực hiện chế độ báo cáo trong quá trình thụ lý hồ sơ giải quyết cho DN.

- Tổng hợp trung thực, khách quan, kịp thời các số liệu, dữ liệu đã tiếp nhận. Xây dựng kế hoạch cho thời gian tiếp theo đầy đủ, chính xác; Báo cáo kịp thời UBND tỉnh, các bộ, ngành, Chính phủ các thông tin, số liệu thường xuyên, đột xuất khi có yêu cầu để phục vụ công tác xây dựng kế hoạch và hoạch định chính sách của Nhà nước.

 4. Kiến nghị, đề xuất

- Lãnh đạo BQL các KCN giao các phòng chuyên môn có báo cáo thực hiện công tác rà soát, nắm toàn diện công tác thực hiện báo cáo trực tuyến trong các KCN Bắc Ninh thông qua việc định kỳ làm việc trực tiếp với một số KCN, Công ty hạ tầng.

- Lãnh đạo BQL các KCN lựa chọn một số DN tiêu biểu, chấp hành tốt chế độ báo cáo trực tuyến để thông báo rộng rãi trên trang Website của Ban và Bản tin KCN hàng tháng. Bên cạnh đó, thông báo bằng văn bản đối với các DN không thực hiện báo cáo trực tuyến và công bố công khai trên trang Website của Ban và Bản tin KCN để cộng đồng DN biết, trong đó giao các Công ty, tập đoàn lớn có ký kết các hợp đồng mua bán sản phẩm, hàng hóa với các DN vệ tinh khác trong KCN theo dõi, nắm bắt, đôn đốc DN vệ tinh để đưa vào tiêu chí đánh giá đối tác khi ký kết, tiếp nhận các đơn hàng, nhằm nâng cao trách nhiệm trong cộng đồng doanh nghiệp KCN, hỗ trợ trực tiếp cho BQL các KCN các KCN và các cơ quan QLNN tại địa phương trong việc nâng cao hiệu quả của công tác báo cáo, thống kê định kỳ, đột xuất trong các KCN.

- Lãnh đạo BQL các KCN cần chỉ đạo phòng chuyên môn chú ý đào tạo, hướng dẫn cho các DN mới đi vào hoạt động SXKD, DNTN, DN tư nhân trong việc chấp hành chế độ báo cáo trực tuyến; thường xuyên cập nhât, theo dõi tình hình thực hiện báo cáo trực tuyến đối với loại hình DN này.

KẾT LUẬN

 

 Có thể nói, hệ thống báo cáo trực tuyến hoạt động SXKD của DN hoạt động trong các KCN Bắc Ninh là một trong những bước đột phá đầu tiên so với các KCN trên cả nước về việc ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ cải cách hành chính và quản lý điều hành chỉ đạo của BQL các KCN trong công tác QLNN. Đây là hệ thống phần mềm tổng hợp, tiếp nhận các dữ liệu, số liệu về một số chỉ tiêu liên quan đến hoạt động SXKD của các DN KCN Bắc Ninh. Đồng thời, là hệ thống tổng hợp, cập nhật các dữ liệu, số liệu, phân quyền, quản lý đối với đối tượng sử dụng, từ đó giúp các phòng chuyên môn, BQL các KCN cập nhật, theo dõi, quản lý về tình hình hoạt động của các DN KCN từ khi được cấp GCNĐT/GCNĐKĐT cho đến quá trình hoạt động và dừng/chấm dứt hoạt động dự án đầu tư (nếu có).

Để bảo đảm khai thác hiệu quả phần mềm trong công tác điều hành quản lý tình hình hoạt động SXKD của DN KCN thì rất cần có sự tham gia, phối hợp của đơn vị chủ trì, các phòng chuyên môn, các DN thuộc đối tượng quản lý, đặc biệt là các DN lớn đóng vai trò quan trọng trong việc giám sát các DN vệ tinh chấp hành chế độ báo cáo, thống kê theo quy định. Bên cạnh đó, chúng ta cần hoàn chỉnh, bổ sung, sửa đổi các dữ liệu, chỉ tiêu cần khai thác, thống nhất, tích hợp các báo cáo phù hợp với quy định của nhà nước để từ đó công tác quản lý, quản trị, khai thác số liệu ngày một hiệu quả, đóng góp quan trọng vào nhiệm vụ hoạch định, xây dựng chính sách, cải cách hành chính của các cơ quan nhà nước, cũng như nâng cao vai trò QLNN đối với các KCN Bắc Ninh./.

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BQL các KCN:

Ban quản lý các Khu công nghiệp

CNTT:

Công nghệ Thông tin

DN:

Doanh nghiệp

DNHĐ:

Doanh nghiệp hoạt động

DNTN:

Doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước

FDI:

Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

File:

Tệp văn bản

GCNĐKĐT:

Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư

GCNĐT:

Giấy chứng nhận đầu tư

KCN:

Khu công nghiệp

ORS:

Online Report System – Báo cáo trực tuyến

QLNN:

Quản lý Nhà nước

SXKD:

Sản xuất kinh doanh

UBND:

Ủy ban nhân dân

Website:

Trang thông tin điện tử

 

MỤC LỤC

Mục, tiểu mục, điểm

Nội dung

Trang

 

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

 

1

Một số vấn đề cơ bản về báo cáo và công tác báo cáo:

1

1.1

Một số khái niệm cơ bản

1

1.2

Công tác báo cáo của doanh nghiệp

2

2

Một số vấn đề cơ bản và thực trạng thực hiện báo cáo trực tuyến về hoạt động SXKD của Ban quản lý các Khu công nghiệp Bắc Ninh.

3

2.1

Áp dụng hình thức báo cáo SXKD tại BQL các KCN

3

2.2

Thực trạng thực hiện báo cáo trực tuyến SXKD tại BQL các KCN

6

a

Tổng hợp chung báo cáo

6

b

Tình hình thực hiện báo cáo theo năm: từ năm 2014 – 6/2017

8

c

Báo cáo phân theo loại hình doanh  nghiệp

9

d

Báo cáo phân theo Khu công nghiệp

10

2.3

Một số tồn tại, hạn chế và nguyên nhân

11

a

Tồn tại, hạn chế

11

b

Nguyên nhân của tồn tại, hạn chế

13

3

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thực hiện chế độ báo cáo trực tuyến vế hoạt động SXKD của BQL các KCN.

15

a

Đối với doanh nghiệp

15

b

Đối với cơ quan nhà nước

16

4

Kiến nghị, đề xuất

18

 

KẾT LUẬN

19

 

CÁC BẢNG BIỂU TỔNG HỢP KÈM THEO

 

 

 

PHÒNG QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP-BAN QUẢN LÝ